Khác biệt cốt lõi nằm ở ba yếu tố: điều kiện xác định tình trạng cư trú, phạm vi thu nhập chịu thuế và phương pháp tính thuế tiền lương, tiền công. Cá nhân cư trú chịu thuế đối với thu nhập chịu thuế phát sinh tại Việt Nam và nước ngoài; cá nhân không cư trú chỉ chịu thuế đối với thu nhập chịu thuế phát sinh tại Việt Nam. Với tiền lương, tiền công, cá nhân cư trú áp dụng biểu thuế lũy tiến từng phần sau các khoản được trừ hợp lệ, trong khi cá nhân không cư trú áp dụng thuế suất 20% đối với tiền lương, tiền công từ công việc thực hiện tại Việt Nam.
|
Tiêu chí |
Cá nhân cư trú |
Cá nhân không cư trú |
|
Xác định tình trạng |
Đáp ứng ít nhất một điều kiện về số ngày hiện diện hoặc nơi ở thường xuyên |
Không đáp ứng điều kiện của cá nhân cư trú |
|
Phạm vi thu nhập |
Thu nhập chịu thuế phát sinh trong và ngoài Việt Nam |
Thu nhập chịu thuế phát sinh tại Việt Nam |
|
Thuế tiền lương, tiền công |
Biểu lũy tiến từng phần 5%–35% theo thu nhập tính thuế |
20% trên tiền lương, tiền công từ công việc thực hiện tại Việt Nam |
|
Giảm trừ gia cảnh |
Được xét giảm trừ theo quy định |
Không áp dụng giảm trừ gia cảnh khi tính thuế tiền lương, tiền công theo tỷ lệ 20% |

Một cá nhân được coi là cư trú tại Việt Nam khi đáp ứng ít nhất một trong các điều kiện:
Điều kiện về ngày hiện diện và điều kiện về nơi ở là hai căn cứ thay thế nhau, không phải đồng thời đáp ứng cả hai. Trường hợp có nơi ở thường xuyên nhưng thời gian hiện diện ngắn cần xem xét quy định hướng dẫn, chứng cứ cư trú ở nước khác và điều ước thuế có liên quan (nếu có).
Cá nhân không cư trú là người không đáp ứng các điều kiện xác định cá nhân cư trú nêu trên. Quốc tịch không phải căn cứ duy nhất: người nước ngoài có thể là cá nhân cư trú tại Việt Nam, còn công dân Việt Nam cũng có thể được xác định không cư trú trong trường hợp phù hợp.
Thuế phải nộp được tính theo biểu thuế lũy tiến từng phần trên thu nhập tính thuế. Về nguyên tắc, thu nhập tính thuế bằng thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công trừ các khoản bảo hiểm, khoản đóng góp và các khoản giảm trừ đủ điều kiện theo luật. Mỗi phần thu nhập được áp dụng mức thuế suất tương ứng, không lấy toàn bộ thu nhập nhân với bậc thuế cao nhất.
Mức giảm trừ gia cảnh áp dụng cho kỳ tính thuế năm 2026 là 15,5 triệu đồng/tháng đối với bản thân người nộp thuế và 6,2 triệu đồng/tháng đối với mỗi người phụ thuộc đủ điều kiện.
|
Bậc |
Phần thu nhập tính thuế/tháng |
Thuế suất |
|
1 |
Đến 10 triệu đồng |
5% |
|
2 |
Trên 10 đến 30 triệu đồng |
10% |
|
3 |
Trên 30 đến 60 triệu đồng |
20% |
|
4 |
Trên 60 đến 100 triệu đồng |
30% |
|
5 |
Trên 100 triệu đồng |
35% |
Giả sử một nhân viên cư trú nhận 30 triệu đồng/tháng thu nhập chịu thuế từ tiền lương, đóng 2 triệu đồng bảo hiểm bắt buộc được trừ và không có người phụ thuộc hay khoản giảm trừ khác. Thu nhập tính thuế là 30 − 2 − 15,5 = 12,5 triệu đồng.
Thuế TNCN theo tháng = 10 triệu × 5% + 2,5 triệu × 10% = 750.000 đồng. Đây là ví dụ giả định theo tháng; nghĩa vụ thuế thực tế phụ thuộc chứng từ, kỳ tính thuế và các khoản được trừ hợp lệ.
Đối với cá nhân không cư trú, thuế TNCN từ tiền lương, tiền công được tính theo công thức:
Thuế TNCN phải nộp = Tiền lương, tiền công nhận được do thực hiện công việc tại Việt Nam × 20%.
Khoản thu nhập này thuộc phạm vi tính thuế tại Việt Nam không phụ thuộc việc đơn vị trả lương ở trong hay ngoài Việt Nam. Không áp dụng biểu thuế lũy tiến từng phần và không trừ giảm trừ gia cảnh theo cách tính đối với cá nhân cư trú.
Ví dụ, một chuyên gia không cư trú nhận 30 triệu đồng tiền công cho công việc thực hiện tại Việt Nam; giả sử toàn bộ khoản này là căn cứ tính thuế và không có miễn, giảm theo điều ước thuế thì số thuế là 30 triệu × 20% = 6 triệu đồng.
Muốn tính đúng thuế TNCN, trước tiên cần xác định tình trạng cư trú bằng thời gian hiện diện và nơi ở thường xuyên; tiếp theo xác định nguồn thu nhập và loại thu nhập. Với tiền lương, tiền công năm 2026, cá nhân cư trú tính theo 5 bậc lũy tiến sau các khoản giảm trừ hợp lệ, còn cá nhân không cư trú tính 20% trên tiền công từ công việc thực hiện tại Việt Nam, có xét các điều ước thuế áp dụng.