Theo Điều 2 Luật Thuế tài nguyên số 45/2009/QH12, đã được sửa đổi, bổ sung và hợp nhất tại Văn bản hợp nhất số 23/VBHN-VPQH, có 9 nhóm đối tượng chịu thuế tài nguyên:
Bao gồm những khoáng sản được khai thác để thu hồi kim loại, chẳng hạn quặng sắt, đồng, vàng, chì, kẽm và bô-xít.
Gồm đá, cát, sỏi, đất khai thác để san lấp hoặc làm vật liệu xây dựng, than và các khoáng sản không kim loại khác theo phân loại pháp luật.
Dầu thô khai thác từ các mỏ dầu thuộc nhóm chịu thuế riêng.
Là các loại khí khai thác thuộc phạm vi điều chỉnh tương ứng của pháp luật về dầu khí và thuế tài nguyên.
Ví dụ gỗ, tre, nứa, củi, cành, ngọn, gốc, rễ và một số sản phẩm thực vật từ rừng tự nhiên. Không đồng nhất sản phẩm rừng tự nhiên với sản phẩm từ rừng trồng.
Bao gồm động vật và thực vật biển khai thác từ tự nhiên. Đây là đối tượng chịu thuế theo danh mục nhưng được miễn thuế tài nguyên theo Điều 9 của Luật.
Gồm nước mặt và nước dưới đất, ngoại trừ nước thiên nhiên dùng cho nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp. Hướng dẫn còn quy định ngoại lệ đối với nước biển dùng để làm mát máy khi đáp ứng điều kiện tương ứng.
Yến sào khai thác từ tự nhiên. Yến thu được từ hoạt động đầu tư xây nhà dẫn dụ chim yến về nuôi và khai thác không thuộc nhóm yến sào thiên nhiên chịu thuế theo hướng dẫn.
Đây là nhóm mở, nhưng không có nghĩa mọi vật chất lấy từ tự nhiên đều mặc nhiên chịu thuế; phải có căn cứ pháp lý xác định cụ thể.

Theo hướng dẫn tại Thông tư 152/2015/TT-BTC và văn bản hợp nhất năm 2026, phạm vi xem xét bao gồm tài nguyên thiên nhiên trong đất liền, hải đảo, nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa thuộc chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam. Khi xác định thuế, cần xem tài nguyên được khai thác ở đâu, thuộc nhóm nào và có ngoại lệ áp dụng hay không.
Đặc biệt, nước khoáng thiên nhiên và nước nóng thiên nhiên được đề cập trong nhóm nước thiên nhiên tại quy định về thuế suất và hướng dẫn xác định sản lượng; không nên bỏ sót chỉ vì danh mục ở Điều 2 dùng tên nhóm chung là “nước thiên nhiên”.
Không. “Đối tượng chịu thuế” là cách phân loại tài nguyên; “người nộp thuế” là chủ thể có nghĩa vụ kê khai, nộp thuế theo quy định; còn “miễn thuế” là trường hợp pháp luật không thu khoản thuế đáng lẽ phát sinh. Vì vậy, cần kiểm tra đồng thời quy định về đối tượng, người nộp và miễn, giảm thuế.
Một số trường hợp đáng chú ý theo Điều 9 Luật Thuế tài nguyên:
Ngoài ra, quy định về người nộp thuế có ngoại lệ riêng đối với hoạt động khai thác tận thu tại mỏ, cụm mỏ, lô dầu khí theo pháp luật dầu khí. Việc miễn thuế không đồng nghĩa hoạt động khai thác được miễn các điều kiện về giấy phép, quản lý tài nguyên hoặc bảo vệ môi trường.
Ví dụ: đá khai thác để bán làm vật liệu xây dựng thuộc nhóm khoáng sản không kim loại; nước ngầm khai thác phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh cần xem xét nghĩa vụ thuế; trong khi hải sản tự nhiên dù có tên trong danh mục vẫn được miễn thuế tài nguyên.
Đối tượng chịu thuế tài nguyên gồm 9 nhóm, từ khoáng sản, dầu khí, sản phẩm rừng tự nhiên, hải sản, nước thiên nhiên đến yến sào và tài nguyên khác được quy định. Để xác định nghĩa vụ thực tế, phải kết hợp danh mục với các ngoại lệ, quy định miễn thuế và chủ thể khai thác; không chỉ căn cứ vào tên tài nguyên.