Thuế giá trị gia tăng là loại thuế tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Đây là định nghĩa tại Điều 2 Luật Thuế giá trị gia tăng. Về bản chất, GTGT là thuế gián thu: người tiêu dùng cuối cùng thường là người chịu gánh nặng thuế trong giá thanh toán, còn cơ sở kinh doanh có nghĩa vụ kê khai, nộp thuế theo phương pháp phù hợp.
Ví dụ, một cửa hàng bán sản phẩm có giá chưa thuế 1.000.000 đồng với thuế suất giả định 10%. Thuế GTGT đầu ra là 100.000 đồng và số tiền khách thanh toán là 1.100.000 đồng. Số thuế cửa hàng thực tế phải nộp còn phụ thuộc phương pháp tính và phần thuế đầu vào được khấu trừ nếu đáp ứng điều kiện.

Không nên hiểu “đánh thuế ở nhiều khâu” là mỗi khâu đều phải chịu toàn bộ thuế trên doanh thu mà không được đối trừ. Đó là điểm quan trọng của phương pháp khấu trừ.
Nhìn chung, hàng hóa và dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng tại Việt Nam thuộc đối tượng chịu thuế GTGT, trừ các trường hợp được pháp luật quy định là không chịu thuế. Việc xác định chính xác dựa vào tính chất hàng hóa, dịch vụ và điều kiện giao dịch; không thể chỉ dựa vào tên gọi sản phẩm.
Pháp luật quy định nhiều nhóm không chịu thuế, chẳng hạn một số dịch vụ y tế, hoạt động dạy học và dạy nghề theo quy định, chuyển quyền sử dụng đất, sản phẩm phần mềm và dịch vụ phần mềm, cùng một số sản phẩm nông nghiệp đáp ứng điều kiện cụ thể. Đối với hàng hóa, dịch vụ của hộ và cá nhân kinh doanh, ngưỡng doanh thu không chịu thuế được xác định theo quy định của Chính phủ trong từng thời kỳ; cần kiểm tra quy định áp dụng tại thời điểm phát sinh.
“Không chịu thuế GTGT” khác với “áp dụng thuế suất 0%”: trường hợp thuế suất 0% vẫn thuộc phạm vi chịu thuế và có thể phát sinh quyền khấu trừ, hoàn thuế đầu vào nếu đáp ứng đủ điều kiện; trường hợp không chịu thuế về nguyên tắc không được khấu trừ, hoàn thuế đầu vào, trừ ngoại lệ do pháp luật quy định.
Người nộp thuế thường là tổ chức, hộ, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế; tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa chịu thuế; và các chủ thể khác theo quy định đối với hoạt động đặc thù. Vì vậy, người mua hàng thường chịu thuế trong giá mua, nhưng không đồng nghĩa với việc mọi người mua đều trực tiếp kê khai thuế GTGT.
Hệ thống thuế suất cơ bản gồm 0%, 5% và 10%. Việc xác định mức áp dụng phụ thuộc nhóm hàng hóa, dịch vụ và điều kiện pháp luật, không phải cơ sở kinh doanh được tự chọn.
|
Mức thuế suất |
Phạm vi áp dụng khái quát |
|
0% |
Một số hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu và trường hợp khác đáp ứng điều kiện luật định. |
|
5% |
Một số nhóm hàng hóa, dịch vụ được liệt kê cụ thể trong luật. |
|
10% |
Mức thông thường đối với hàng hóa, dịch vụ không thuộc diện 0% hoặc 5%, trước khi xét chính sách giảm thuế. |
Theo Nghị quyết 204/2025/QH15, từ ngày 01/07/2025 đến hết ngày 31/12/2026, một số hàng hóa, dịch vụ thuộc diện thuế suất 10% được giảm 2 điểm phần trăm, còn 8%. Chính sách không áp dụng cho mọi mặt hàng: có các nhóm loại trừ như viễn thông, tài chính, ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm, kinh doanh bất động sản và các nhóm khác được nêu trong nghị quyết. Cần đối chiếu danh mục, hướng dẫn triển khai và thực tế hàng hóa, dịch vụ trước khi lập hóa đơn.
Với cơ sở áp dụng phương pháp khấu trừ, thuế GTGT phải nộp = thuế GTGT đầu ra − thuế GTGT đầu vào được khấu trừ. Thuế đầu ra thường xác định bằng giá tính thuế nhân với thuế suất phù hợp. Thuế đầu vào chỉ được khấu trừ khi đáp ứng điều kiện về hóa đơn, chứng từ và các điều kiện pháp lý liên quan.
Ví dụ minh họa: doanh nghiệp bán hàng có thuế GTGT đầu ra 20 triệu đồng, thuế đầu vào đủ điều kiện khấu trừ 12 triệu đồng thì số thuế GTGT phải nộp trong ví dụ là 8 triệu đồng. Đây là ví dụ đơn giản, chưa xét các khoản điều chỉnh, chuyển kỳ hoặc trường hợp đặc thù.
Với cơ sở thuộc diện áp dụng phương pháp trực tiếp, cách xác định thuế phụ thuộc loại hoạt động và cơ chế luật định, chẳng hạn tính theo tỷ lệ phần trăm trên doanh thu đối với một số trường hợp. Không được dùng công thức khấu trừ đầu ra trừ đầu vào cho mọi hộ kinh doanh hoặc mọi doanh nghiệp.
Khi xem hóa đơn, hãy xác định giá hàng hóa, dịch vụ là giá chưa thuế hay giá đã gồm thuế; kiểm tra thuế suất (hoặc cách thể hiện theo quy định đối với trường hợp đặc thù), số tiền thuế và tổng thanh toán. Với giá chưa thuế 500.000 đồng và thuế suất 8%, thuế là 40.000 đồng, tổng thanh toán 540.000 đồng. Nếu giá đã bao gồm thuế thì không được cộng thêm 8% lần nữa.
Thuế GTGT gắn với hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng và cách xác định thuế tại các giao dịch thuộc diện chịu thuế. Thuế thu nhập doanh nghiệp hoặc thuế thu nhập cá nhân lại gắn với thu nhập tính thuế theo quy định riêng. Doanh nghiệp có thể đồng thời phát sinh nghĩa vụ về nhiều sắc thuế, nhưng căn cứ tính và cách kê khai không giống nhau.
Thuế giá trị gia tăng là thuế gián thu tính trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ. Để áp dụng đúng, cần lần lượt xác định giao dịch có thuộc diện chịu thuế hay không, mức thuế suất hoặc chính sách giảm thuế tương ứng, rồi chọn phương pháp tính phù hợp. Riêng các giao dịch năm 2026, cần chú ý thay đổi của văn bản pháp luật và thời hạn chính sách thuế suất 8%.