• 0919.83.77.88
  • 091.983.77.88

Quyền, nghĩa vụ của thành viên công ty TNHH hai thành viên trở lên

Thành viên công ty TNHH hai thành viên trở lên vừa có quyền tham gia quản trị, hưởng lợi ích từ phần vốn góp, vừa phải thực hiện các cam kết góp vốn và tuân thủ quyết định hợp pháp của công ty. Phạm vi một số quyền còn phụ thuộc tỷ lệ sở hữu, Điều lệ và tình trạng thực hiện nghĩa vụ góp vốn.

Thành viên công ty TNHH hai thành viên trở lên có những quyền gì?

Theo Điều 49 Luật Doanh nghiệp 2020 (đã được sửa đổi, bổ sung), thành viên có các quyền về quản trị, tài sản, định đoạt phần vốn góp và bảo vệ lợi ích hợp pháp. Công ty TNHH hai thành viên trở lên có từ 02 đến 50 thành viên là cá nhân hoặc tổ chức; không phải thành viên nào cũng có cùng tỷ lệ phiếu biểu quyết hoặc quyền yêu cầu triệu tập họp.

Quyền tham gia quản lý và biểu quyết

  • Tham dự họp Hội đồng thành viên; thảo luận, kiến nghị và biểu quyết những vấn đề thuộc thẩm quyền của Hội đồng thành viên.
  • Có số phiếu biểu quyết tương ứng với phần vốn góp, ngoại trừ trường hợp đặc biệt về vốn cam kết trong thời hạn góp vốn theo khoản 2 Điều 47.
  • Được thực hiện các quyền khác do Luật Doanh nghiệp và Điều lệ công ty quy định.

Hội đồng thành viên là cơ quan quyết định cao nhất của công ty. Do vậy, quyền dự họp và biểu quyết giúp thành viên tham gia các quyết định như phương án kinh doanh, phân chia lợi nhuận hoặc thay đổi cơ cấu quản lý theo thẩm quyền luật định.

Quyền hưởng lợi ích tài sản và ưu tiên góp vốn

  • Được chia lợi nhuận tương ứng với phần vốn góp sau khi công ty đã nộp đủ thuế và hoàn thành các nghĩa vụ tài chính khác theo pháp luật.
  • Được chia giá trị tài sản còn lại tương ứng với phần vốn góp khi công ty giải thể hoặc phá sản, sau khi xử lý các nghĩa vụ theo trình tự pháp luật.
  • Được ưu tiên góp thêm vốn khi công ty tăng vốn điều lệ.

Quyền được chia lợi nhuận không đồng nghĩa với việc thành viên có thể tự ý rút tiền hoặc tài sản của công ty; việc phân phối phải phù hợp điều kiện pháp luật và quyết định hợp lệ của công ty.

Quyền định đoạt phần vốn góp và khởi kiện

Thành viên được chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp, tặng cho hoặc định đoạt theo hình thức khác phù hợp pháp luật và Điều lệ. Khi chuyển nhượng thông thường, phần vốn góp phải được chào bán cho thành viên còn lại theo tỷ lệ tương ứng và cùng điều kiện; nếu họ không mua hoặc không mua hết trong 30 ngày kể từ ngày chào bán, thành viên mới được chuyển nhượng cho người ngoài theo cùng điều kiện, trừ những trường hợp ngoại lệ luật định (Điều 52).

Thành viên cũng có quyền tự mình hoặc nhân danh công ty khởi kiện trách nhiệm dân sự đối với Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc/Tổng giám đốc, người đại diện theo pháp luật và người quản lý khác theo điều kiện quy định tại Điều 72 Luật Doanh nghiệp.

Nhóm thành viên nào có quyền yêu cầu triệu tập họp và kiểm tra tài liệu?

Quyền, nghĩa vụ của thành viên công ty TNHH hai thành viên trở lên

Ngoài các quyền chung, theo khoản 2 Điều 49, thành viên hoặc nhóm thành viên sở hữu từ 10% vốn điều lệ trở lên (hoặc tỷ lệ thấp hơn do Điều lệ quy định) được thực hiện những quyền bổ sung sau:

  • Yêu cầu triệu tập họp Hội đồng thành viên để giải quyết vấn đề thuộc thẩm quyền.
  • Kiểm tra, xem xét, tra cứu sổ ghi chép và theo dõi giao dịch, sổ kế toán, báo cáo tài chính hằng năm.
  • Kiểm tra, xem xét, tra cứu và sao chụp sổ đăng ký thành viên, biên bản họp, nghị quyết, quyết định của Hội đồng thành viên và tài liệu khác của công ty.
  • Yêu cầu Tòa án hủy bỏ nghị quyết, quyết định của Hội đồng thành viên trong 90 ngày kể từ ngày kết thúc cuộc họp khi có vi phạm về trình tự, thủ tục, điều kiện họp hoặc nội dung nghị quyết, quyết định trái luật hay Điều lệ.

Trường hợp một thành viên sở hữu trên 90% vốn điều lệ và Điều lệ không đặt ra tỷ lệ thấp hơn theo khoản 2 Điều 49, nhóm thành viên còn lại đương nhiên có các quyền bổ sung nêu trên dù tổng tỷ lệ sở hữu của họ dưới 10% (khoản 3 Điều 49).

Nghĩa vụ của thành viên công ty TNHH hai thành viên trở lên là gì?

Điều 50 Luật Doanh nghiệp quy định thành viên phải thực hiện nghĩa vụ về vốn, tuân thủ cơ chế quản trị và chịu trách nhiệm cá nhân đối với một số hành vi khi nhân danh công ty.

Góp đủ, đúng hạn số vốn đã cam kết

Khi thành lập công ty, thành viên phải góp đủ và đúng loại tài sản đã cam kết trong 90 ngày kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp; không tính thời gian vận chuyển, nhập khẩu tài sản góp vốn và thực hiện thủ tục hành chính chuyển quyền sở hữu tài sản. Việc thay đổi loại tài sản góp vốn phải đáp ứng điều kiện chấp thuận tại khoản 2 Điều 47.

Nếu hết hạn vẫn chưa góp vốn, người cam kết góp nhưng chưa góp đương nhiên không còn là thành viên. Người góp chưa đủ chỉ có quyền tương ứng phần vốn thực góp; phần chưa góp được xử lý theo quyết định Hội đồng thành viên. Công ty phải đăng ký điều chỉnh vốn điều lệ và tỷ lệ phần vốn góp theo thời hạn luật định. Người không góp hoặc góp thiếu vẫn có thể phải chịu trách nhiệm đối với các nghĩa vụ tài chính phát sinh trước ngày công ty đăng ký điều chỉnh theo tỷ lệ vốn đã cam kết (Điều 47).

Không tự ý rút vốn và tuân thủ Điều lệ, nghị quyết

  • Không được tự ý rút vốn đã góp khỏi công ty dưới mọi hình thức, trừ các trường hợp được phép theo các điều 51, 52, 53 và 68 Luật Doanh nghiệp.
  • Tuân thủ Điều lệ công ty.
  • Chấp hành nghị quyết, quyết định của Hội đồng thành viên; thực hiện các nghĩa vụ khác theo quy định của Luật Doanh nghiệp.

Thành viên muốn thu hồi giá trị phần vốn góp cần sử dụng cơ chế pháp lý phù hợp, như yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp trong trường hợp luật định hoặc chuyển nhượng theo đúng thủ tục, thay vì tự lấy lại tiền đã góp.

Chịu trách nhiệm về nghĩa vụ tài sản và hành vi nhân danh công ty

Về nguyên tắc, thành viên chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi vốn đã góp. Tuy nhiên, nguyên tắc trách nhiệm hữu hạn có ngoại lệ, đặc biệt khi chưa góp đủ vốn và với các hành vi phải chịu trách nhiệm cá nhân theo luật.

Theo khoản 5 Điều 50, thành viên phải chịu trách nhiệm cá nhân nếu nhân danh công ty để:

  • Thực hiện hành vi vi phạm pháp luật.
  • Tiến hành kinh doanh hoặc giao dịch khác không nhằm phục vụ lợi ích của công ty và gây thiệt hại cho người khác.
  • Thanh toán khoản nợ chưa đến hạn trước nguy cơ tài chính có thể xảy ra đối với công ty.

Khi không đồng ý với quyết định công ty, thành viên có thể làm gì?

Thành viên bỏ phiếu không tán thành nghị quyết, quyết định về việc sửa đổi Điều lệ liên quan đến quyền và nghĩa vụ của thành viên hoặc Hội đồng thành viên, tổ chức lại công ty, hay trường hợp khác theo Điều lệ, có quyền yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp (Điều 51). Yêu cầu phải lập bằng văn bản và gửi trong 15 ngày kể từ ngày thông qua nghị quyết, quyết định. Trong 15 ngày từ khi nhận yêu cầu hợp lệ, công ty phải mua lại theo nguyên tắc định giá được luật quy định, nhưng chỉ được thanh toán nếu sau đó vẫn bảo đảm trả đủ nợ và nghĩa vụ tài sản khác.

Nếu công ty không thanh toán được phần vốn góp được yêu cầu mua lại theo quy định, thành viên có quyền tự do chuyển nhượng phần vốn góp cho thành viên khác hoặc người ngoài công ty. Trường hợp nghị quyết, quyết định có dấu hiệu trái luật hoặc Điều lệ, thành viên hay nhóm thành viên đáp ứng điều kiện tại Điều 49 có thể cân nhắc quyền yêu cầu Tòa án hủy bỏ trong thời hạn luật định.

Kết luận

Quyền và nghĩa vụ thành viên công ty TNHH hai thành viên trở lên gắn chặt với phần vốn góp, tỷ lệ sở hữu và Điều lệ công ty. Để bảo vệ lợi ích của mình, thành viên cần góp vốn đúng hạn, lưu giữ chứng từ góp vốn, theo dõi nghị quyết Hội đồng thành viên và lựa chọn đúng thủ tục khi muốn chuyển nhượng, yêu cầu mua lại hoặc phản đối quyết định.

zalo