Theo Điều 49 Luật Doanh nghiệp 2020 (đã được sửa đổi, bổ sung), thành viên có các quyền về quản trị, tài sản, định đoạt phần vốn góp và bảo vệ lợi ích hợp pháp. Công ty TNHH hai thành viên trở lên có từ 02 đến 50 thành viên là cá nhân hoặc tổ chức; không phải thành viên nào cũng có cùng tỷ lệ phiếu biểu quyết hoặc quyền yêu cầu triệu tập họp.
Hội đồng thành viên là cơ quan quyết định cao nhất của công ty. Do vậy, quyền dự họp và biểu quyết giúp thành viên tham gia các quyết định như phương án kinh doanh, phân chia lợi nhuận hoặc thay đổi cơ cấu quản lý theo thẩm quyền luật định.
Quyền được chia lợi nhuận không đồng nghĩa với việc thành viên có thể tự ý rút tiền hoặc tài sản của công ty; việc phân phối phải phù hợp điều kiện pháp luật và quyết định hợp lệ của công ty.
Thành viên được chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp, tặng cho hoặc định đoạt theo hình thức khác phù hợp pháp luật và Điều lệ. Khi chuyển nhượng thông thường, phần vốn góp phải được chào bán cho thành viên còn lại theo tỷ lệ tương ứng và cùng điều kiện; nếu họ không mua hoặc không mua hết trong 30 ngày kể từ ngày chào bán, thành viên mới được chuyển nhượng cho người ngoài theo cùng điều kiện, trừ những trường hợp ngoại lệ luật định (Điều 52).
Thành viên cũng có quyền tự mình hoặc nhân danh công ty khởi kiện trách nhiệm dân sự đối với Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc/Tổng giám đốc, người đại diện theo pháp luật và người quản lý khác theo điều kiện quy định tại Điều 72 Luật Doanh nghiệp.

Ngoài các quyền chung, theo khoản 2 Điều 49, thành viên hoặc nhóm thành viên sở hữu từ 10% vốn điều lệ trở lên (hoặc tỷ lệ thấp hơn do Điều lệ quy định) được thực hiện những quyền bổ sung sau:
Trường hợp một thành viên sở hữu trên 90% vốn điều lệ và Điều lệ không đặt ra tỷ lệ thấp hơn theo khoản 2 Điều 49, nhóm thành viên còn lại đương nhiên có các quyền bổ sung nêu trên dù tổng tỷ lệ sở hữu của họ dưới 10% (khoản 3 Điều 49).
Điều 50 Luật Doanh nghiệp quy định thành viên phải thực hiện nghĩa vụ về vốn, tuân thủ cơ chế quản trị và chịu trách nhiệm cá nhân đối với một số hành vi khi nhân danh công ty.
Khi thành lập công ty, thành viên phải góp đủ và đúng loại tài sản đã cam kết trong 90 ngày kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp; không tính thời gian vận chuyển, nhập khẩu tài sản góp vốn và thực hiện thủ tục hành chính chuyển quyền sở hữu tài sản. Việc thay đổi loại tài sản góp vốn phải đáp ứng điều kiện chấp thuận tại khoản 2 Điều 47.
Nếu hết hạn vẫn chưa góp vốn, người cam kết góp nhưng chưa góp đương nhiên không còn là thành viên. Người góp chưa đủ chỉ có quyền tương ứng phần vốn thực góp; phần chưa góp được xử lý theo quyết định Hội đồng thành viên. Công ty phải đăng ký điều chỉnh vốn điều lệ và tỷ lệ phần vốn góp theo thời hạn luật định. Người không góp hoặc góp thiếu vẫn có thể phải chịu trách nhiệm đối với các nghĩa vụ tài chính phát sinh trước ngày công ty đăng ký điều chỉnh theo tỷ lệ vốn đã cam kết (Điều 47).
Thành viên muốn thu hồi giá trị phần vốn góp cần sử dụng cơ chế pháp lý phù hợp, như yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp trong trường hợp luật định hoặc chuyển nhượng theo đúng thủ tục, thay vì tự lấy lại tiền đã góp.
Về nguyên tắc, thành viên chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi vốn đã góp. Tuy nhiên, nguyên tắc trách nhiệm hữu hạn có ngoại lệ, đặc biệt khi chưa góp đủ vốn và với các hành vi phải chịu trách nhiệm cá nhân theo luật.
Theo khoản 5 Điều 50, thành viên phải chịu trách nhiệm cá nhân nếu nhân danh công ty để:
Thành viên bỏ phiếu không tán thành nghị quyết, quyết định về việc sửa đổi Điều lệ liên quan đến quyền và nghĩa vụ của thành viên hoặc Hội đồng thành viên, tổ chức lại công ty, hay trường hợp khác theo Điều lệ, có quyền yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp (Điều 51). Yêu cầu phải lập bằng văn bản và gửi trong 15 ngày kể từ ngày thông qua nghị quyết, quyết định. Trong 15 ngày từ khi nhận yêu cầu hợp lệ, công ty phải mua lại theo nguyên tắc định giá được luật quy định, nhưng chỉ được thanh toán nếu sau đó vẫn bảo đảm trả đủ nợ và nghĩa vụ tài sản khác.
Nếu công ty không thanh toán được phần vốn góp được yêu cầu mua lại theo quy định, thành viên có quyền tự do chuyển nhượng phần vốn góp cho thành viên khác hoặc người ngoài công ty. Trường hợp nghị quyết, quyết định có dấu hiệu trái luật hoặc Điều lệ, thành viên hay nhóm thành viên đáp ứng điều kiện tại Điều 49 có thể cân nhắc quyền yêu cầu Tòa án hủy bỏ trong thời hạn luật định.
Quyền và nghĩa vụ thành viên công ty TNHH hai thành viên trở lên gắn chặt với phần vốn góp, tỷ lệ sở hữu và Điều lệ công ty. Để bảo vệ lợi ích của mình, thành viên cần góp vốn đúng hạn, lưu giữ chứng từ góp vốn, theo dõi nghị quyết Hội đồng thành viên và lựa chọn đúng thủ tục khi muốn chuyển nhượng, yêu cầu mua lại hoặc phản đối quyết định.