Điểm khác biệt cốt lõi là chiều giao dịch: đầu vào phát sinh khi mua, đầu ra phát sinh khi bán. Với doanh nghiệp áp dụng phương pháp khấu trừ, thuế đầu ra là căn cứ xác định nghĩa vụ thuế; thuế đầu vào chỉ được trừ vào thuế đầu ra khi đáp ứng điều kiện khấu trừ theo quy định.
|
Tiêu chí |
Thuế GTGT đầu vào |
Thuế GTGT đầu ra |
|
Phát sinh |
Khi mua hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập khẩu hàng hóa |
Khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ chịu thuế |
|
Vị trí trên chứng từ |
Thuế trên hóa đơn mua vào hoặc chứng từ nộp thuế phù hợp |
Thuế trên hóa đơn GTGT bán ra |
|
Vai trò |
Có thể được khấu trừ nếu đáp ứng đủ điều kiện |
Là thuế tính trên hoạt động bán ra |
|
Cách xác định |
Tổng thuế đầu vào đáp ứng điều kiện theo hóa đơn, chứng từ |
Giá tính thuế × thuế suất áp dụng; cộng các giao dịch bán ra |
|
Tác động đến số phải nộp |
Làm giảm số thuế phải nộp trong phạm vi được khấu trừ |
Làm tăng số thuế phải nộp trước khấu trừ |

Thuế GTGT đầu vào là khoản thuế gắn với hàng hóa, dịch vụ mua vào hoặc hàng hóa nhập khẩu, được thể hiện trên hóa đơn GTGT, chứng từ nộp thuế theo quy định. Ví dụ, doanh nghiệp mua nguyên vật liệu giá chưa thuế 50 triệu đồng, áp dụng thuế suất 10%, thì số thuế đầu vào ghi trên hóa đơn là 5 triệu đồng.
Tuy nhiên, có thuế đầu vào không đồng nghĩa được khấu trừ toàn bộ. Việc khấu trừ còn phụ thuộc mục đích sử dụng hàng hóa, dịch vụ, phương pháp tính thuế và hồ sơ chứng từ.
Thuế GTGT đầu ra là tổng số thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ chịu thuế mà doanh nghiệp bán ra, được xác định theo hóa đơn GTGT và quy định về giá tính thuế, thuế suất. Chẳng hạn, bán hàng với giá chưa thuế 80 triệu đồng và thuế suất áp dụng 10% thì thuế đầu ra là 8 triệu đồng.
Thuế suất của từng mặt hàng, dịch vụ cần xác định theo quy định đang áp dụng tại thời điểm giao dịch; không mặc định mọi hàng hóa, dịch vụ đều chịu 10%.
Số thuế GTGT phải nộp = Thuế GTGT đầu ra − Thuế GTGT đầu vào được khấu trừ.
Ví dụ minh họa: Cùng một kỳ kê khai, doanh nghiệp có thuế đầu ra 8 triệu đồng; có 5 triệu đồng thuế đầu vào và toàn bộ khoản này đủ điều kiện khấu trừ. Khi đó, số thuế GTGT phải nộp là 8 − 5 = 3 triệu đồng.
Nếu thuế đầu vào được khấu trừ lớn hơn thuế đầu ra, doanh nghiệp không vì vậy mà tự động được hoàn ngay phần chênh lệch. Việc chuyển khấu trừ sang kỳ sau hoặc hoàn thuế phải xét đúng điều kiện pháp luật đối với từng trường hợp.
Đối với cơ sở kinh doanh áp dụng phương pháp khấu trừ, các điều kiện cần chú ý gồm:
Với khoản mua trả chậm hoặc trả góp chưa đến hạn thanh toán, việc khấu trừ và điều chỉnh khi đến hạn phải thực hiện theo quy định tương ứng. Doanh nghiệp cần đối chiếu chứng từ thanh toán với điều khoản hợp đồng.
Để phân biệt thuế GTGT đầu vào và đầu ra, hãy bắt đầu từ chứng từ mua vào và bán ra, sau đó xác định phần thuế đầu vào thực sự đủ điều kiện khấu trừ. Chỉ khi áp dụng đúng phương pháp tính thuế và đúng điều kiện chứng từ, phép tính thuế đầu ra trừ đầu vào được khấu trừ mới phản ánh chính xác nghĩa vụ thuế.