Theo Điều 11 Luật Thuế GTGT số 48/2024/QH15 (đã được sửa đổi, bổ sung), công thức cơ bản là:
Thuế GTGT phải nộp = Thuế GTGT đầu ra − Thuế GTGT đầu vào được khấu trừ
Thuế GTGT đầu ra là tổng số thuế GTGT trên hóa đơn của hàng hóa, dịch vụ bán ra trong kỳ. Thuế GTGT đầu vào được khấu trừ là phần thuế mua vào đáp ứng các điều kiện theo quy định; không nhất thiết bằng toàn bộ thuế ghi trên mọi hóa đơn đầu vào.
Nếu phần thuế đầu vào đủ điều kiện lớn hơn thuế đầu ra, thông thường không phát sinh số thuế phải nộp từ phép tính này; phần chưa khấu trừ hết được xử lý theo quy định về chuyển kỳ sau hoặc hoàn thuế nếu đáp ứng điều kiện riêng. Không mặc nhiên hiểu kết quả âm là khoản được hoàn ngay.

Với từng hàng hóa, dịch vụ chịu thuế: Thuế GTGT đầu ra = Giá tính thuế GTGT × Thuế suất áp dụng. Sau đó cộng thuế GTGT của tất cả hóa đơn bán ra thuộc kỳ kê khai.
Ví dụ minh họa: doanh nghiệp bán một lô hàng có giá chưa thuế 100.000.000 đồng, thuộc diện áp dụng thuế suất 10%. Thuế đầu ra là 100.000.000 × 10% = 10.000.000 đồng. Đây là ví dụ giả định; thuế suất thực tế phải xác định theo nhóm hàng hóa, dịch vụ và thời điểm phát sinh.
Nếu giá thanh toán đã bao gồm thuế và hàng hóa, dịch vụ chịu thuế suất r, có thể xác định giá chưa thuế = Giá thanh toán ÷ (1 + r); thuế GTGT = Giá thanh toán − Giá chưa thuế. Công thức này sử dụng khi khoản giá đã bao gồm thuế theo đúng trường hợp pháp luật quy định.
Ví dụ: giá thanh toán 108.000.000 đồng đã gồm thuế 8% thì giá chưa thuế là 100.000.000 đồng và thuế GTGT là 8.000.000 đồng.
Không phải mọi khoản thuế GTGT đầu vào phát sinh đều được trừ. Cơ sở kinh doanh phải xem xét mục đích sử dụng hàng hóa, dịch vụ và hồ sơ chứng từ theo Điều 14 Luật Thuế GTGT cùng quy định hướng dẫn hiện hành.
Đối với mua trả chậm, trả góp, điều kiện và thời điểm điều chỉnh số thuế đã khấu trừ cần được kiểm tra theo hợp đồng và quy định áp dụng, kể cả nội dung đã được sửa đổi trong năm 2026. Không nên mặc định hóa đơn hợp lệ đồng nghĩa với việc chắc chắn được khấu trừ.
Giả sử doanh nghiệp áp dụng phương pháp khấu trừ, toàn bộ số liệu dưới đây thuộc cùng một kỳ kê khai và khoản thuế đầu vào nêu ra đều đủ điều kiện khấu trừ:
|
Chỉ tiêu |
Giá trị |
|
Doanh thu bán ra chưa GTGT |
200.000.000 đồng |
|
Thuế suất GTGT đầu ra giả định |
10% |
|
Thuế GTGT đầu ra |
20.000.000 đồng |
|
Thuế GTGT đầu vào đủ điều kiện khấu trừ |
12.000.000 đồng |
|
Thuế GTGT phải nộp |
8.000.000 đồng |
Phép tính: 200.000.000 × 10% = 20.000.000 đồng thuế đầu ra; 20.000.000 − 12.000.000 = 8.000.000 đồng thuế GTGT phải nộp. Trường hợp cùng dữ liệu nhưng chỉ 9.000.000 đồng thuế đầu vào đáp ứng điều kiện, số thuế phải nộp sẽ là 11.000.000 đồng.
Phương pháp khấu trừ không đồng nghĩa tất cả giao dịch áp dụng một thuế suất. Theo nhóm hàng hóa, dịch vụ, có thể có mức 0%, 5% hoặc 10%; một số hàng hóa, dịch vụ thuộc diện thuế suất 10% được giảm còn 8% trong khoảng từ 01/7/2025 đến hết 31/12/2026 theo Nghị quyết 204/2025/QH15 và quy định hướng dẫn, ngoại trừ các nhóm bị loại trừ.
Vì vậy, trước khi nhân giá tính thuế với thuế suất, cần đối chiếu mặt hàng, dịch vụ cụ thể, tình trạng chịu thuế hoặc không chịu thuế, danh mục loại trừ và thời điểm tính thuế. Thuế suất 0% không đồng nghĩa với “không chịu thuế GTGT”; điều kiện khấu trừ đầu vào có thể khác nhau.
Cách tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ gồm ba việc: xác định đúng thuế đầu ra, rà soát phần thuế đầu vào đủ điều kiện và lấy đầu ra trừ đầu vào được khấu trừ. Độ chính xác của kết quả phụ thuộc cả công thức lẫn việc xác định đúng thuế suất, hóa đơn và chứng từ thanh toán trong kỳ.