Theo Điều 12 Luật Thuế GTGT số 48/2024/QH15 (đã được sửa đổi, bổ sung), có hai cách xác định số thuế phải nộp:
Vì vậy, trước khi tính thuế cần xác định đúng chủ thể, ngành nghề, loại hàng hóa hoặc dịch vụ và chính sách thuế có hiệu lực tại thời điểm phát sinh giao dịch.

Thuế GTGT phải nộp = Doanh thu tính thuế × Tỷ lệ % tính thuế GTGT.
Doanh thu tính thuế là tổng số tiền bán hàng hóa, dịch vụ ghi trên hóa đơn bán hàng, bao gồm khoản phụ thu và phí thu thêm mà cơ sở kinh doanh được hưởng. Không lấy lợi nhuận sau khi trừ chi phí làm căn cứ tính thuế theo công thức này.
|
Nhóm hoạt động |
Tỷ lệ tính thuế GTGT |
|
Phân phối, cung cấp hàng hóa |
1% |
|
Dịch vụ, xây dựng không bao thầu nguyên vật liệu |
5% |
|
Sản xuất, vận tải, dịch vụ có gắn với hàng hóa; xây dựng có bao thầu nguyên vật liệu |
3% |
|
Hoạt động kinh doanh khác |
2% |
Đây là các tỷ lệ cơ bản theo Luật Thuế GTGT. Việc xác định nhóm ngành cụ thể thực hiện theo danh mục hướng dẫn; một số hàng hóa, dịch vụ đủ điều kiện có thể được giảm 20% mức tỷ lệ % tính thuế trong thời gian áp dụng chính sách giảm thuế GTGT.
Ví dụ minh họa: Một cơ sở kinh doanh thuộc diện nộp thuế theo phương pháp trực tiếp bán hàng hóa có doanh thu tính thuế 200 triệu đồng trong kỳ. Giả sử hàng hóa không thuộc diện giảm thuế, thuế GTGT phải nộp là 200.000.000 × 1% = 2.000.000 đồng.
Nếu hàng hóa thuộc diện được giảm 20% mức tỷ lệ phần trăm theo chính sách giảm thuế hiện hành, mức tỷ lệ 1% được giảm còn 0,8%; thuế tương ứng là 200.000.000 × 0,8% = 1.600.000 đồng. Đây là ví dụ giả định để làm rõ tác động của chính sách giảm thuế, không áp dụng mặc nhiên cho mọi mặt hàng.
Với hoạt động mua, bán, chế tác vàng, bạc, đá quý, căn cứ tính thuế là giá trị gia tăng, không phải toàn bộ doanh thu bán ra. Công thức:
Giá trị gia tăng = Giá thanh toán bán ra − Giá thanh toán mua vào tương ứng.
Thuế GTGT phải nộp = Giá trị gia tăng × Thuế suất GTGT áp dụng (thông thường 10% đối với hoạt động này).
Giá thanh toán bán ra bao gồm tiền công chế tác (nếu có) và các khoản phụ thu, phí thu thêm mà bên bán được hưởng; giá mua vào phải tương ứng với vàng, bạc, đá quý bán ra. Cơ sở kinh doanh đồng thời có ngành nghề khác phải hạch toán riêng hoạt động này.
Ví dụ: Một lô vàng có giá thanh toán mua vào tương ứng là 400 triệu đồng và giá thanh toán bán ra là 450 triệu đồng. Giá trị gia tăng là 50 triệu đồng; thuế GTGT trực tiếp phải nộp là 50 triệu × 10% = 5 triệu đồng.
Nếu trong kỳ phát sinh giá trị gia tăng âm, việc bù trừ và kết chuyển thực hiện theo quy định dành riêng cho hoạt động vàng, bạc, đá quý; không nên tự áp dụng quy tắc trừ lỗ này sang phương pháp tính trên doanh thu.
Phương pháp tính trực tiếp theo doanh thu áp dụng với các nhóm chủ thể đáp ứng điều kiện tại Điều 12 Luật Thuế GTGT, trong đó có doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã có doanh thu hằng năm dưới 1 tỷ đồng nếu không tự nguyện áp dụng phương pháp khấu trừ; hộ, cá nhân kinh doanh thuộc diện chịu thuế; cùng một số tổ chức khác theo quy định.
Riêng đối với hộ, cá nhân kinh doanh, từ ngày 01/01/2026, ngưỡng doanh thu năm không chịu thuế GTGT được nâng lên 1 tỷ đồng theo Nghị định 141/2026/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 68/2026/NĐ-CP. Hộ, cá nhân kinh doanh có doanh thu năm từ 1 tỷ đồng trở xuống thuộc diện không chịu thuế GTGT; trên ngưỡng này thuộc diện tính thuế trực tiếp trên doanh thu nếu hoạt động chịu thuế.
Không nhầm ngưỡng không chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh với ngưỡng doanh thu dùng để xác định phương pháp của doanh nghiệp. Cũng cần lưu ý, việc không chịu thuế GTGT không đồng nghĩa với miễn mọi nghĩa vụ kê khai, hóa đơn hay các loại thuế khác.
Để xác định đúng thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp, trước hết chọn đúng công thức: doanh thu nhân tỷ lệ phần trăm cho hoạt động thuộc diện tính trực tiếp theo doanh thu; hoặc giá trị gia tăng nhân thuế suất đối với vàng, bạc, đá quý. Sau đó kiểm tra đúng nhóm hoạt động, ngưỡng áp dụng và chính sách giảm thuế của kỳ tính thuế.