Theo Điều 2 Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 107/2016/QH13 (được cập nhật trong văn bản hợp nhất số 96/VBHN-VPQH năm 2026), đối tượng chịu thuế xuất nhập khẩu được xác định theo ba nhóm giao dịch chính dưới đây, trừ những trường hợp pháp luật loại trừ.
Đây là nhóm phổ biến: hàng hóa được đưa từ Việt Nam ra nước ngoài hoặc từ nước ngoài vào Việt Nam qua cửa khẩu, biên giới. Ví dụ, doanh nghiệp nhập khẩu máy móc để sử dụng tại Việt Nam hoặc xuất khẩu hàng hóa sản xuất trong nước. Việc hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế không đồng nghĩa mọi lô hàng đều có số thuế phải nộp lớn hơn 0.
Hàng hóa xuất khẩu từ thị trường trong nước vào khu phi thuế quan và hàng hóa nhập khẩu từ khu phi thuế quan vào thị trường trong nước thuộc phạm vi xem xét thuế xuất khẩu, nhập khẩu. Cần xác định đúng địa vị pháp lý của khu phi thuế quan và chiều luân chuyển hàng hóa; không nên mặc định mọi giao dịch liên quan đến khu này đều chịu thuế.
Nhóm này bao gồm hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại chỗ và hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu của doanh nghiệp thực hiện quyền xuất khẩu, quyền nhập khẩu hoặc quyền phân phối. Vì không phải mọi giao dịch đều có hình thức vận chuyển qua biên giới thông thường, cần đối chiếu hồ sơ và loại hình giao dịch theo quy định hải quan có liên quan.

Khoản 4 Điều 2 Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu nêu các trường hợp không áp dụng đối tượng chịu thuế:
Đối với hàng hóa đưa từ nước ngoài vào khu phi thuế quan, điều kiện “chỉ sử dụng trong khu phi thuế quan” là chi tiết quan trọng. Nếu hàng hóa sau đó đi vào thị trường trong nước, cần đánh giá giao dịch phát sinh theo quy định tương ứng.
Ba khái niệm này không thay thế cho nhau:
|
Khái niệm |
Ý nghĩa khi xác định thuế |
|
Thuộc đối tượng chịu thuế |
Giao dịch hàng hóa nằm trong phạm vi điều chỉnh về đối tượng chịu thuế theo luật. |
|
Không thuộc đối tượng chịu thuế |
Giao dịch thuộc trường hợp bị loại trừ ngay tại quy định về đối tượng chịu thuế. |
|
Được miễn thuế |
Hàng hóa thuộc diện chịu thuế nhưng được áp dụng chế độ miễn thuế nếu đáp ứng đầy đủ điều kiện. |
|
Thuế suất 0% |
Hàng hóa vẫn có thể thuộc đối tượng chịu thuế, nhưng thuế suất áp dụng trong trường hợp cụ thể bằng 0%. |
Vì vậy, không thể chỉ dựa vào mức thuế thực nộp bằng 0 để kết luận hàng hóa không thuộc đối tượng chịu thuế. Cần tách bước xác định đối tượng khỏi bước xác định miễn thuế và tính thuế.
Ví dụ, một lô hàng được nhập từ nước ngoài vào thị trường Việt Nam nhìn chung thuộc nhóm hàng hóa nhập khẩu qua cửa khẩu. Tuy nhiên, kết luận về số thuế phải nộp chỉ có thể đưa ra sau khi xác định chính xác chính sách thuế áp dụng cho lô hàng đó.
Đối tượng chịu thuế xuất nhập khẩu chủ yếu gồm hàng hóa qua cửa khẩu, biên giới Việt Nam; hàng hóa giao dịch giữa thị trường trong nước và khu phi thuế quan; cùng hàng hóa xuất nhập khẩu tại chỗ hoặc thuộc giao dịch thực hiện các quyền xuất khẩu, nhập khẩu, phân phối. Khi áp dụng, cần kiểm tra các trường hợp không thuộc diện chịu thuế trước khi xem xét miễn thuế và thuế suất.