• 0919.83.77.88
  • 091.983.77.88

Ai phải nộp thuế xuất khẩu, nhập khẩu?

Trách nhiệm nộp thuế không chỉ thuộc về doanh nghiệp trực tiếp đứng tên xuất khẩu hoặc nhập khẩu. Tùy chủ thể thực hiện giao dịch, hình thức ủy quyền và tình trạng pháp lý của hàng hóa, nghĩa vụ này có thể phát sinh với nhiều tổ chức, cá nhân khác nhau.

Ai là người nộp thuế xuất nhập khẩu theo quy định?

Điều 3 Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 107/2016/QH13 quy định 7 nhóm người nộp thuế. Đây là căn cứ để xác định chủ thể có trách nhiệm pháp lý về thuế đối với hàng hóa thuộc phạm vi điều chỉnh, thay vì chỉ dựa vào thỏa thuận ai sẽ chịu chi phí trong hợp đồng mua bán.

  • 1. Chủ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.
  • 2. Tổ chức nhận ủy thác xuất khẩu, nhập khẩu.
  • 3. Người xuất cảnh, nhập cảnh có hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, gửi hoặc nhận hàng hóa qua cửa khẩu, biên giới Việt Nam.
  • 4. Người được ủy quyền, bảo lãnh và nộp thuế thay cho người nộp thuế theo các trường hợp luật định.
  • 5. Người thu mua, vận chuyển hàng trong định mức miễn thuế của cư dân biên giới nhưng đưa vào bán trong nước thay vì dùng cho sản xuất, tiêu dùng; và thương nhân nước ngoài được phép kinh doanh xuất nhập khẩu tại chợ biên giới.
  • 6. Người có hàng hóa ban đầu thuộc đối tượng không chịu thuế hoặc miễn thuế nhưng sau đó thay đổi và chuyển sang đối tượng chịu thuế.
  • 7. Các trường hợp khác theo quy định pháp luật.

Việc thuộc một trong các nhóm trên không đồng nghĩa mọi lô hàng đều phát sinh số thuế phải nộp: cần phân biệt tư cách người nộp thuế với việc hàng hóa có thuộc diện chịu thuế, miễn thuế hoặc áp dụng mức thuế cụ thể hay không.

Các trường hợp thường gặp cần xác định trách nhiệm nộp thuế

Ai phải nộp thuế xuất khẩu, nhập khẩu?

Chủ hàng và tổ chức nhận ủy thác xuất nhập khẩu

Chủ hàng hóa là nhóm người nộp thuế cơ bản. Khi doanh nghiệp tự nhập một lô nguyên liệu để kinh doanh, doanh nghiệp cần xác định nghĩa vụ thuế đối với lô hàng theo quy định áp dụng. Nếu hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu được thực hiện theo hình thức ủy thác, tổ chức nhận ủy thác cũng thuộc nhóm người nộp thuế được luật liệt kê.

Vì vậy, trong giao dịch ủy thác, cần xem xét hồ sơ hải quan và quan hệ ủy thác; không nên mặc nhiên suy ra người sở hữu hàng hóa hoặc người chuyển tiền thanh toán luôn là chủ thể trực tiếp thực hiện mọi nghĩa vụ thuế.

Cá nhân mang hàng, gửi hàng hoặc nhận hàng qua biên giới

Người xuất cảnh, nhập cảnh có hàng hóa và người gửi hoặc nhận hàng hóa qua cửa khẩu, biên giới Việt Nam thuộc phạm vi Điều 3. Chẳng hạn, cá nhân nhận kiện hàng từ nước ngoài có thể cần thực hiện nghĩa vụ thuế nhập khẩu nếu hàng thuộc diện chịu thuế và không đáp ứng điều kiện miễn thuế.

Hành lý, quà biếu, quà tặng và hàng gửi qua dịch vụ vận chuyển có thể chịu các quy định về định mức hoặc điều kiện miễn thuế riêng. Do đó, không thể kết luận mọi kiện hàng cá nhân nhận từ nước ngoài đều phải nộp thuế.

Người được ủy quyền, bảo lãnh hoặc nộp thuế thay

Khoản 4 Điều 3 xác định các chủ thể có thể thực hiện trách nhiệm nộp thuế thay hoặc bảo lãnh trong những trường hợp cụ thể:

  • Đại lý làm thủ tục hải quan khi được người nộp thuế ủy quyền nộp thuế.
  • Doanh nghiệp bưu chính hoặc chuyển phát nhanh quốc tế khi nộp thuế thay.
  • Tổ chức tín dụng hoặc tổ chức khác hoạt động theo pháp luật về các tổ chức tín dụng khi bảo lãnh, nộp thuế thay.
  • Người được chủ hàng ủy quyền đối với quà biếu, quà tặng của cá nhân hoặc hành lý gửi trước, gửi sau chuyến đi.
  • Chi nhánh doanh nghiệp được ủy quyền nộp thuế thay doanh nghiệp.
  • Người khác được ủy quyền nộp thuế thay theo quy định pháp luật.

Cần phân biệt người có nghĩa vụ thuế với đơn vị được giao thực hiện việc nộp tiền: việc thanh toán hộ hoặc thuê dịch vụ khai hải quan không tự động làm thay đổi chủ thể chịu trách nhiệm pháp lý. Phạm vi trách nhiệm phụ thuộc quy định và nội dung ủy quyền, bảo lãnh tương ứng.

Người kinh doanh hàng biên giới và người chuyển đổi mục đích hàng miễn thuế

Hàng hóa trong định mức miễn thuế dành cho cư dân biên giới được gắn với mục đích sản xuất, tiêu dùng theo quy định. Người thu mua, vận chuyển loại hàng này để bán ở thị trường nội địa, thay vì sử dụng đúng mục đích, thuộc diện người nộp thuế theo luật. Thương nhân nước ngoài được phép kinh doanh hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại chợ biên giới cũng được liệt kê.

Một trường hợp khác là hàng hóa ban đầu không chịu thuế hoặc được miễn thuế nhưng sau đó thay đổi tình trạng, mục đích sử dụng làm chuyển sang diện chịu thuế. Khi đó, người có hàng hóa phải xem xét nghĩa vụ phát sinh tại thời điểm và theo thủ tục được pháp luật quy định.

Làm sao xác định ai phải nộp thuế trong một lô hàng cụ thể?

Để xác định đúng trách nhiệm, có thể kiểm tra theo trình tự sau:

  • Xác định hàng hóa có thuộc đối tượng chịu thuế xuất khẩu, nhập khẩu theo Điều 2 hay không; đồng thời xem xét trường hợp không chịu thuế, miễn thuế.
  • Xác định chủ hàng, đơn vị đứng tên thực hiện hoạt động xuất nhập khẩu, hồ sơ ủy thác và người khai hải quan.
  • Kiểm tra có văn bản ủy quyền nộp thuế thay, hợp đồng dịch vụ hoặc thỏa thuận bảo lãnh hợp lệ hay không.
  • Đối chiếu các tình huống đặc thù: hành lý, quà tặng, bưu gửi, hàng cư dân biên giới, hàng được miễn thuế nhưng đổi mục đích sử dụng.
  • Xác định nghĩa vụ kê khai, số thuế và thời hạn nộp thuế theo hồ sơ thực tế và quy định áp dụng.

Ví dụ: Công ty A thuê công ty B nhập khẩu ủy thác một lô thiết bị. Không nên chỉ dựa vào việc A là bên sử dụng thiết bị để xác định ai thực hiện nghĩa vụ thuế; cần đối chiếu tư cách nhận ủy thác của B, chứng từ hải quan và thỏa thuận giữa hai bên. Nếu công ty B thuê thêm đại lý hải quan, đại lý chỉ thuộc trường hợp được ủy quyền nộp thuế thay khi đáp ứng điều kiện tương ứng.

Người nộp thuế có phải luôn trực tiếp nộp tiền thuế không?

Không nhất thiết. Pháp luật ghi nhận trường hợp đại lý hải quan, doanh nghiệp chuyển phát, tổ chức bảo lãnh, chi nhánh hoặc người được ủy quyền nộp thay. Tuy nhiên, việc một đơn vị chuyển tiền thay không có nghĩa mọi nghĩa vụ và trách nhiệm liên quan đến lô hàng đều được chuyển giao cho đơn vị đó.

Đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thuộc diện chịu thuế, nguyên tắc chung của Điều 9 là nộp thuế trước khi thông quan hoặc giải phóng hàng hóa, trừ các trường hợp pháp luật có quy định khác, chẳng hạn cơ chế bảo lãnh hoặc chế độ ưu tiên. Khi phát sinh tình huống đặc thù, cần kiểm tra quy định cụ thể về thời hạn.

Kết luận

Người nộp thuế xuất nhập khẩu không chỉ là chủ hàng mà còn có thể là tổ chức nhận ủy thác, cá nhân có hàng qua biên giới, người nộp thay hoặc bảo lãnh và các chủ thể thuộc trường hợp đặc thù. Căn cứ chính là Điều 3 Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; để áp dụng cho một lô hàng, cần đối chiếu thêm tính chất hàng hóa, hồ sơ giao dịch và điều kiện miễn thuế hoặc phát sinh nghĩa vụ thuế.

zalo