• 0919.83.77.88
  • 091.983.77.88

Công ty TNHH hai thành viên trở lên là gì?

Công ty TNHH hai thành viên trở lên là loại hình doanh nghiệp được nhiều nhóm nhà đầu tư cân nhắc khi muốn cùng góp vốn kinh doanh và giới hạn rủi ro tài sản. Để hiểu đúng mô hình này, cần phân biệt trách nhiệm của công ty với trách nhiệm của từng thành viên, nhất là trong giai đoạn góp vốn thành lập.

Công ty TNHH hai thành viên trở lên là gì?

Theo Điều 46 Luật Doanh nghiệp, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên là doanh nghiệp có từ 02 đến 50 thành viên, có thể là cá nhân hoặc tổ chức. Công ty có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Về nguyên tắc, thành viên chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản của công ty trong phạm vi số vốn đã góp, trừ ngoại lệ về nghĩa vụ góp vốn được pháp luật quy định.

Ví dụ minh họa: A góp 600 triệu đồng và B góp 400 triệu đồng để thành lập công ty có vốn điều lệ 1 tỷ đồng. Khi cả hai đã góp đủ vốn hợp lệ, nghĩa vụ thanh toán khoản nợ kinh doanh thông thường trước hết thuộc về công ty bằng tài sản của chính công ty; A và B không mặc nhiên phải lấy toàn bộ tài sản cá nhân để trả thay.

Đặc điểm pháp lý của công ty TNHH hai thành viên trở lên

Công ty TNHH hai thành viên trở lên là gì?

Số lượng và tư cách thành viên

Công ty phải duy trì từ 02 đến 50 thành viên. Thành viên có thể là cá nhân hoặc tổ chức đáp ứng điều kiện góp vốn, thành lập và quản lý doanh nghiệp theo pháp luật. Mỗi thành viên sở hữu một phần vốn góp, không phải cổ phần như trong công ty cổ phần.

Tư cách pháp nhân và tài sản của công ty

Kể từ khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, công ty có tư cách pháp nhân và có tài sản độc lập với tài sản riêng của thành viên. Các giao dịch, khoản vay và nghĩa vụ do công ty xác lập hợp pháp là nghĩa vụ của công ty. Sự tách biệt này là cơ sở của cơ chế trách nhiệm hữu hạn, nhưng không loại trừ trách nhiệm riêng khi thành viên hoặc người quản lý vi phạm nghĩa vụ pháp luật.

Vốn điều lệ và thời hạn góp vốn

Vốn điều lệ lúc đăng ký thành lập là tổng giá trị phần vốn góp mà các thành viên cam kết góp và ghi trong Điều lệ. Theo Điều 47, thành viên phải góp đủ và đúng loại tài sản đã cam kết trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp; không tính khoảng thời gian vận chuyển, nhập khẩu tài sản góp vốn và làm thủ tục hành chính chuyển quyền sở hữu tài sản. Nếu không góp đủ, công ty phải thực hiện điều chỉnh đăng ký theo quy định.

Chuyển nhượng phần vốn góp và huy động vốn

Việc chuyển nhượng phần vốn góp chịu các điều kiện, trình tự của Luật Doanh nghiệp; nhìn chung không tự do như chuyển nhượng cổ phần phổ thông. Công ty không được phát hành cổ phần, trừ trường hợp để chuyển đổi thành công ty cổ phần. Công ty có thể phát hành trái phiếu nếu đáp ứng các điều kiện pháp luật liên quan.

Cơ cấu tổ chức quản lý

Cơ cấu quản lý thông thường gồm Hội đồng thành viên, Chủ tịch Hội đồng thành viên và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc. Hội đồng thành viên gồm tất cả thành viên công ty và là cơ quan quyết định cao nhất. Trường hợp thuộc diện pháp luật yêu cầu, công ty còn phải tổ chức Ban kiểm soát; những trường hợp khác thực hiện theo quy định pháp luật và Điều lệ.

Chế độ trách nhiệm tài sản của công ty và thành viên

Trách nhiệm của công ty đối với chủ nợ

Công ty chịu trách nhiệm thanh toán các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản bằng tài sản thuộc sở hữu của công ty. Khi công ty kinh doanh thua lỗ hoặc mất khả năng thanh toán, việc xử lý tài sản và nghĩa vụ của công ty phải tuân theo quy định pháp luật liên quan, không đồng nghĩa mọi thành viên tự động chịu trách nhiệm vô hạn.

Trách nhiệm hữu hạn của thành viên đã góp đủ vốn

Về nguyên tắc, thành viên chịu rủi ro trong phạm vi giá trị phần vốn đã góp vào công ty. Đây không phải là giới hạn số nợ công ty có thể phát sinh; đó là giới hạn trách nhiệm thông thường của thành viên đối với nghĩa vụ của doanh nghiệp. Thành viên vẫn có thể phải thực hiện nghĩa vụ riêng, chẳng hạn nghĩa vụ phát sinh từ bảo lãnh cá nhân hoặc hành vi vi phạm pháp luật của mình.

Ngoại lệ khi chưa góp hoặc góp chưa đủ vốn cam kết

Khoản 4 Điều 47 quy định: thành viên chưa góp hoặc chưa góp đủ vốn cam kết phải chịu trách nhiệm tương ứng với tỷ lệ phần vốn góp đã cam kết đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty phát sinh trước ngày công ty đăng ký thay đổi vốn điều lệ và tỷ lệ phần vốn góp của các thành viên. Vì vậy, không thể mặc nhiên lấy số vốn thực góp làm giới hạn trách nhiệm trong mọi thời điểm.

Hết thời hạn góp vốn, người hoàn toàn chưa góp vốn đương nhiên không còn là thành viên; người góp chưa đủ chỉ có quyền tương ứng với phần vốn đã góp. Công ty phải đăng ký điều chỉnh vốn điều lệ và tỷ lệ phần vốn góp trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày cuối cùng phải góp đủ vốn theo quy định.

Minh họa sự khác nhau giữa các trường hợp trách nhiệm

Tình huống

Nguyên tắc áp dụng

Thành viên đã góp đủ vốn

Thông thường chịu trách nhiệm trong phạm vi vốn đã góp; công ty trả nợ bằng tài sản của công ty.

Thành viên chưa góp đủ vốn trong giai đoạn có nghĩa vụ tài chính phát sinh trước khi đăng ký điều chỉnh

Có thể phải chịu trách nhiệm theo tỷ lệ vốn đã cam kết theo khoản 4 Điều 47.

Thành viên ký bảo lãnh cá nhân cho khoản vay của công ty

Trách nhiệm bảo lãnh được xác định riêng theo cam kết bảo lãnh và pháp luật liên quan.

Người quản lý hoặc thành viên thực hiện hành vi trái pháp luật

Có thể phát sinh trách nhiệm cá nhân tương ứng với hành vi và hậu quả, không được viện dẫn trách nhiệm hữu hạn để miễn trừ.

Ưu điểm và giới hạn cần cân nhắc khi lựa chọn

Mô hình này phù hợp với nhóm nhà đầu tư tương đối ổn định, muốn phân chia quyền quản lý theo phần vốn góp và giới hạn rủi ro tài sản theo nguyên tắc luật định. Tư cách pháp nhân giúp tách bạch giao dịch của công ty với giao dịch riêng của thành viên.

Ở chiều ngược lại, việc chuyển nhượng vốn chịu ràng buộc pháp lý, số lượng thành viên bị giới hạn ở 50, và doanh nghiệp không thể huy động vốn bằng cách phát hành cổ phần khi vẫn giữ nguyên loại hình. Các thành viên cũng cần quy định rõ cơ chế biểu quyết, phân chia lợi nhuận, giải quyết bất đồng và nghĩa vụ góp vốn trong Điều lệ.

Kết luận

Công ty TNHH hai thành viên trở lên có từ 02 đến 50 thành viên, có tư cách pháp nhân và áp dụng nguyên tắc trách nhiệm hữu hạn. Tuy nhiên, khi thành viên chưa góp đủ vốn cam kết hoặc tự xác lập nghĩa vụ riêng, phạm vi trách nhiệm có thể khác nguyên tắc thông thường. Vì vậy, cần đặc biệt lưu ý tiến độ góp vốn và nội dung Điều lệ khi tổ chức doanh nghiệp.

zalo