• 0919.83.77.88
  • 091.983.77.88

Ai không được thành lập và quản lý doanh nghiệp?

Không phải mọi cá nhân, tổ chức đều được đứng tên thành lập hoặc điều hành doanh nghiệp. Pháp luật giới hạn quyền này đối với một số chủ thể nhằm kiểm soát xung đột lợi ích, bảo vệ tài sản công và bảo đảm điều kiện pháp lý của người quản lý.

Những ai không được thành lập và quản lý doanh nghiệp theo Điều 17?

Khoản 2 Điều 17 Luật Doanh nghiệp 2020, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, xác định bảy nhóm chủ thể không có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam. Khi áp dụng, cần đọc kèm những ngoại lệ được quy định trực tiếp và các luật chuyên ngành có liên quan.

1. Cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang dùng tài sản nhà nước để thu lợi riêng

Cơ quan nhà nước hoặc đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân không được sử dụng tài sản nhà nước để thành lập doanh nghiệp kinh doanh nhằm thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình. Điểm cấm nằm ở mục đích sử dụng tài sản công để thu lợi riêng, không đồng nghĩa với việc Nhà nước không thể đầu tư vốn hoặc tổ chức doanh nghiệp theo đúng cơ chế pháp luật.

2. Cán bộ, công chức và những trường hợp viên chức thuộc diện hạn chế

Cán bộ, công chức, viên chức được nêu tại điểm b khoản 2 Điều 17, với ngoại lệ liên quan đến pháp luật về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Tuy nhiên, từ ngày 01/7/2026, khoản 3 Điều 13 Luật Viên chức 2025 còn ghi nhận quyền góp vốn, tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp của viên chức, trừ trường hợp pháp luật về phòng, chống tham nhũng, doanh nghiệp hoặc pháp luật ngành, lĩnh vực quy định khác.

Do đó, không nên kết luận mọi viên chức đều bị cấm tham gia quản lý doanh nghiệp trong mọi tình huống. Đối với người đang là viên chức, cần đối chiếu đồng thời Luật Viên chức, Luật Doanh nghiệp và quy định áp dụng cho vị trí, lĩnh vực công tác trước khi quyết định đứng tên thành lập hoặc nhận chức vụ quản lý.

3. Một số người đang công tác trong quân đội, công an

Nhóm này gồm sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và công nhân công an trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam. Ngoại lệ áp dụng đối với người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp hoặc quản lý tại doanh nghiệp nhà nước.

4. Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ tại một số doanh nghiệp nhà nước

Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong doanh nghiệp nhà nước thuộc phạm vi điểm a khoản 1 Điều 88 Luật Doanh nghiệp không có quyền thành lập, quản lý doanh nghiệp khác, trừ người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp khác. Không nên tự động mở rộng hạn chế này cho mọi người lao động trong mọi doanh nghiệp có vốn nhà nước.

5. Người chưa thành niên, người bị hạn chế năng lực và tổ chức không có tư cách pháp nhân

Luật liệt kê người chưa thành niên; người bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự; người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; và tổ chức không có tư cách pháp nhân. Chẳng hạn, người chưa đủ 18 tuổi không thể tự mình đứng tên thành lập và quản lý doanh nghiệp theo quy định này.

6. Người đang chịu một số biện pháp tố tụng, thi hành án hoặc bị cấm hành nghề

Các trường hợp bao gồm người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bị tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù; đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc; hoặc đang bị Tòa án cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hay làm công việc nhất định. Ngoài ra còn có những trường hợp hạn chế theo Luật Phá sản và Luật Phòng, chống tham nhũng.

7. Pháp nhân thương mại bị cấm kinh doanh hoặc hoạt động trong lĩnh vực nhất định

Tổ chức là pháp nhân thương mại bị cấm kinh doanh hoặc bị cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định theo Bộ luật Hình sự cũng thuộc diện hạn chế. Cần xem phạm vi và thời hạn cấm trong quyết định có hiệu lực, tránh diễn giải mọi hình thức cấm hoạt động đều là lệnh cấm vô thời hạn đối với mọi ngành nghề.

Phân biệt quyền thành lập, quản lý doanh nghiệp với quyền góp vốn

Ai không được thành lập và quản lý doanh nghiệp?

Không được thành lập hoặc quản lý doanh nghiệp không mặc nhiên đồng nghĩa với bị cấm góp vốn, mua cổ phần hay mua phần vốn góp trong mọi trường hợp. Khoản 3 Điều 17 quy định riêng về quyền góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp; đồng thời đặt ra giới hạn đối với cơ quan, đơn vị sử dụng tài sản nhà nước để thu lợi riêng và các đối tượng thuộc diện bị hạn chế theo pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức và phòng, chống tham nhũng.

Vì thế, một người có thể phải kiểm tra hai vấn đề độc lập: có được trực tiếp thành lập hoặc nắm chức danh quản lý doanh nghiệp hay không; và có được đầu tư thụ động bằng việc góp vốn, sở hữu cổ phần hay không. Riêng viên chức cần đặc biệt lưu ý cơ chế áp dụng của Luật Viên chức từ ngày 01/7/2026.

Cách tự kiểm tra trước khi đăng ký thành lập doanh nghiệp

  1. Xác định tình trạng pháp lý hiện tại: độ tuổi, năng lực hành vi dân sự, tư cách pháp nhân và tình trạng tố tụng hoặc thi hành án nếu có.
  2. Kiểm tra công việc, chức vụ đang đảm nhiệm, đặc biệt trong cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, quân đội, công an hoặc doanh nghiệp nhà nước.
  3. Đối chiếu ngoại lệ và luật chuyên ngành áp dụng cho trường hợp cụ thể, nhất là pháp luật về viên chức, phòng chống tham nhũng và khoa học, công nghệ.
  4. Phân biệt kế hoạch đứng tên thành lập, trực tiếp điều hành với chỉ góp vốn hoặc sở hữu cổ phần; kiểm tra từng quyền riêng biệt.

Nếu thuộc nhóm có ngoại lệ hoặc có quy định giao thoa giữa nhiều luật, nên xác minh với bộ phận pháp chế hoặc cơ quan có thẩm quyền trước khi nộp hồ sơ đăng ký.

Kết luận

Muốn xác định ai không được thành lập và quản lý doanh nghiệp, cần bắt đầu từ bảy nhóm tại khoản 2 Điều 17 Luật Doanh nghiệp, sau đó kiểm tra ngoại lệ và pháp luật chuyên ngành. Đặc biệt, quyền của viên chức từ ngày 01/7/2026 cần được đánh giá theo từng trường hợp; không nên sử dụng danh sách cấm cũ như một kết luận tuyệt đối.

zalo