Khác biệt cốt lõi nằm ở thời điểm xác định và mục đích sử dụng: thu nhập chịu thuế là phần thu nhập thuộc diện chịu thuế sau khi loại các khoản được miễn; thu nhập tính thuế là căn cứ đã được điều chỉnh theo những khoản trừ được pháp luật cho phép để áp dụng thuế suất. Với tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú, thu nhập tính thuế thường thấp hơn thu nhập chịu thuế, hoặc bằng không nếu các khoản được trừ đủ lớn.
|
Tiêu chí |
Thu nhập chịu thuế |
Thu nhập tính thuế |
|
Bản chất |
Khoản thu nhập thuộc phạm vi chịu thuế, không bao gồm phần được miễn theo luật. |
Phần thu nhập được dùng làm cơ sở tính số thuế phải nộp. |
|
Với tiền lương, tiền công |
Gồm tiền lương, tiền công và lợi ích thuộc diện chịu thuế. |
Thu nhập chịu thuế trừ bảo hiểm và các khoản giảm trừ hợp lệ. |
|
Các khoản giảm trừ gia cảnh |
Chưa trừ tại bước xác định thu nhập chịu thuế. |
Được trừ nếu đáp ứng điều kiện áp dụng. |
|
Vai trò |
Xác định khoản thu nhập phải đưa vào quy trình tính thuế. |
Làm căn cứ áp dụng biểu thuế lũy tiến từng phần đối với tiền lương của cá nhân cư trú. |

Thu nhập chịu thuế TNCN là các khoản thu nhập nằm trong nhóm chịu thuế theo luật, ngoại trừ khoản thuộc diện miễn thuế. Luật quy định nhiều nhóm thu nhập, chẳng hạn thu nhập từ kinh doanh, tiền lương và tiền công, đầu tư vốn, chuyển nhượng vốn hoặc bất động sản, trúng thưởng và một số nhóm khác.
Trong phạm vi tiền lương, tiền công, thu nhập chịu thuế không đồng nghĩa với toàn bộ tiền người lao động nhận vào tài khoản. Cần xem tính chất từng khoản lương, thưởng, thù lao, lợi ích và chế độ miễn thuế liên quan để xác định phần thực sự phải tính vào thu nhập chịu thuế.
Thu nhập tính thuế là cơ sở trực tiếp để tính tiền thuế theo phương pháp áp dụng cho từng loại thu nhập. Không có một công thức trừ giảm trừ gia cảnh chung cho mọi loại thu nhập chịu thuế.
Riêng với tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú, công thức khái quát là:
Thu nhập tính thuế = Thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công − Các khoản bảo hiểm được trừ − Giảm trừ gia cảnh − Các khoản giảm trừ khác đủ điều kiện.
Các khoản được trừ có thể gồm bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp bắt buộc; một số khoản đóng góp bảo hiểm, hưu trí theo giới hạn và điều kiện; các khoản giảm trừ gia cảnh, đóng góp từ thiện, nhân đạo và khoản giảm trừ khác được pháp luật công nhận. Không phải mọi khoản chi tiêu cá nhân đều được khấu trừ.
Tổng hợp các khoản tiền lương, tiền công, thù lao và lợi ích chịu thuế phát sinh trong kỳ; loại riêng những khoản được miễn thuế theo đúng điều kiện. Không lấy mặc định lương thực nhận (net) làm thu nhập chịu thuế.
Đối với cá nhân cư trú, mức giảm trừ gia cảnh áp dụng từ kỳ tính thuế năm 2026 là 15,5 triệu đồng/tháng cho bản thân người nộp thuế và 6,2 triệu đồng/tháng cho mỗi người phụ thuộc đủ điều kiện. Ngoài ra, trừ các khoản đóng góp bảo hiểm và giảm trừ khác theo quy định, có chứng từ hoặc hồ sơ phù hợp khi được yêu cầu.
Phần thu nhập tính thuế từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú được áp dụng biểu thuế lũy tiến từng phần gồm 5 bậc: đến 10 triệu đồng/tháng (5%); trên 10 đến 30 triệu (10%); trên 30 đến 60 triệu (20%); trên 60 đến 100 triệu (30%); và trên 100 triệu (35%). Mỗi phần thu nhập chỉ chịu thuế suất của bậc tương ứng, không phải toàn bộ thu nhập đều nhân với một mức thuế suất cao nhất.
Giả sử trong một tháng thuộc năm 2026, một cá nhân cư trú có thu nhập chịu thuế từ tiền lương 30 triệu đồng; các khoản bảo hiểm được trừ 3 triệu đồng; không có người phụ thuộc và không có khoản giảm trừ khác. Khi đó:
Ví dụ cho thấy 30 triệu đồng là thu nhập chịu thuế, nhưng chỉ 11,5 triệu đồng được dùng để áp dụng biểu thuế. Các con số minh họa giả định rằng toàn bộ khoản giảm trừ nêu trên đều đủ điều kiện và người lao động thuộc diện áp dụng biểu lũy tiến.
Thu nhập chịu thuế giúp xác định khoản thu nhập nằm trong phạm vi đánh thuế; thu nhập tính thuế là phần còn lại dùng để áp dụng cách tính thuế tương ứng. Khi tính TNCN từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú, cần lần lượt xác định khoản chịu thuế, loại khoản miễn thuế và trừ đúng các khoản được phép theo kỳ tính thuế.