Người nộp thuế là tổ chức hoặc cá nhân được pháp luật xác định có nghĩa vụ thuế, kể cả trường hợp thực hiện khấu trừ, nộp thay theo quy định. Người chịu thuế, theo nghĩa kinh tế trong cách so sánh này, là người cuối cùng gánh khoản chi phí do thuế tạo ra. Vì thế, người đứng tên kê khai hoặc nộp tiền vào ngân sách không nhất thiết là người thực sự chịu toàn bộ gánh nặng thuế.
|
Tiêu chí |
Người nộp thuế |
Người chịu thuế |
|
Bản chất |
Chủ thể được xác định theo quy định pháp luật thuế |
Chủ thể gánh chi phí thuế về mặt kinh tế |
|
Quan hệ với cơ quan thuế |
Có nghĩa vụ theo quy định, tùy sắc thuế và trường hợp cụ thể |
Không mặc nhiên có nghĩa vụ kê khai, nộp thuế chỉ vì chịu chi phí |
|
Trong thuế gián thu |
Thường là cơ sở kinh doanh bán hàng hóa, dịch vụ chịu thuế |
Thường là người mua/tiêu dùng, nhưng gánh nặng thực tế phụ thuộc giá và thị trường |
|
Trong thuế trực thu |
Thường trùng với chủ thể có thu nhập, tài sản bị đánh thuế |
Thường trùng với người nộp thuế; tác động kinh tế có thể lan sang chủ thể khác |

Khoản 1 Điều 2 Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 01/07/2026, xác định các nhóm người nộp thuế, trong đó có tổ chức, hộ gia đình, hộ kinh doanh, cá nhân, cá nhân kinh doanh theo pháp luật về thuế; một số tổ chức, cá nhân nước ngoài có hoạt động kinh doanh hoặc thu nhập thuộc diện điều chỉnh; và tổ chức, cá nhân thực hiện khấu trừ, nộp thay số thuế đã khấu trừ theo quy định.
Việc ai là người nộp thuế đối với một khoản thuế cụ thể còn phải căn cứ luật điều chỉnh sắc thuế đó. Chẳng hạn, Điều 4 Luật Thuế giá trị gia tăng số 48/2024/QH15 (đã được sửa đổi, bổ sung) quy định các nhóm người nộp thuế GTGT, trong đó có cơ sở kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế và người nhập khẩu hàng hóa chịu thuế.
Lý do là nghĩa vụ pháp lý và gánh nặng kinh tế không phải cùng một khái niệm. Thuế gián thu có thể được tính vào giá hàng hóa, dịch vụ: cơ sở kinh doanh thực hiện nghĩa vụ thuế theo luật, còn người mua có thể thanh toán mức giá bao gồm khoản thuế đó. Tuy nhiên, khả năng chuyển gánh nặng thuế vào giá phụ thuộc vào điều kiện thị trường, quan hệ cung – cầu và chính sách giá; không nên mặc định người mua luôn chịu toàn bộ thuế.
Giả sử cửa hàng bán một sản phẩm có giá chưa thuế là 100.000 đồng, áp dụng thuế suất GTGT giả định 10% để minh họa và xuất hóa đơn với số thuế 10.000 đồng. Người mua thanh toán 110.000 đồng. Trong ví dụ đơn giản này, cửa hàng là chủ thể thực hiện nghĩa vụ thuế GTGT theo cơ chế áp dụng; người mua trả khoản tiền có thành phần thuế. Số GTGT cửa hàng thực tế phải nộp vào ngân sách còn phụ thuộc phương pháp tính và các khoản được khấu trừ nếu đủ điều kiện.
Người lao động có thu nhập tiền lương thuộc diện chịu thuế TNCN là chủ thể có nghĩa vụ thuế đối với thu nhập của mình. Doanh nghiệp trả lương có thể thực hiện khấu trừ và nộp số thuế đã khấu trừ theo quy định. Việc doanh nghiệp chuyển tiền thuế vào ngân sách không có nghĩa doanh nghiệp là người chịu khoản thuế thu nhập đó. Đây là ví dụ cho thấy người thực hiện thủ tục nộp tiền và người có nghĩa vụ thuế gốc cần được phân biệt.
Điểm cốt lõi khi phân biệt người nộp thuế và người chịu thuế là: người nộp thuế được xác định theo pháp luật, còn người chịu thuế nói đến gánh nặng kinh tế. Hai chủ thể có thể trùng nhau hoặc khác nhau. Muốn xác định chính xác trong một giao dịch, cần xét đúng sắc thuế, cơ chế nộp hoặc khấu trừ và cách chi phí thuế được phân bổ.