Đối với cá nhân cư trú, thuế TNCN được tính theo biểu thuế lũy tiến từng phần: mỗi phần thu nhập tính thuế thuộc bậc nào áp dụng thuế suất của bậc đó, không áp một mức thuế suất cao nhất cho toàn bộ thu nhập.
Thu nhập tính thuế = Thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công − Các khoản bảo hiểm, đóng góp được trừ − Giảm trừ gia cảnh − Các khoản giảm trừ khác đủ điều kiện.
Thuế TNCN phải nộp = Tổng số thuế tính riêng cho từng bậc của thu nhập tính thuế.
Nếu thu nhập tính thuế bằng 0 hoặc âm, số thuế phát sinh theo biểu lũy tiến bằng 0. Các khoản giảm trừ chỉ được tính khi đáp ứng điều kiện pháp luật.

Cơ sở xác định là tiền lương, tiền công và các khoản có tính chất tiền lương, tiền công, thù lao hoặc lợi ích bằng tiền hay không bằng tiền thuộc diện chịu thuế. Không được mặc nhiên coi toàn bộ lương gross là thu nhập tính thuế; cần loại các khoản miễn thuế hoặc không tính vào thu nhập chịu thuế theo điều kiện tương ứng.
Các mức 15,5 triệu đồng và 6,2 triệu đồng áp dụng từ kỳ tính thuế năm 2026. Khi kiểm tra số thuế của kỳ 2025, không sử dụng các mức năm 2026 thay thế hồi tố.
Biểu sau áp dụng đối với thu nhập tính thuế từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú:
|
Bậc |
Thu nhập tính thuế/tháng |
Thuế suất |
|
1 |
Đến 10 triệu đồng |
5% |
|
2 |
Trên 10 đến 30 triệu đồng |
10% |
|
3 |
Trên 30 đến 60 triệu đồng |
20% |
|
4 |
Trên 60 đến 100 triệu đồng |
30% |
|
5 |
Trên 100 triệu đồng |
35% |
Đây là các ngưỡng của thu nhập tính thuế sau giảm trừ, không phải ngưỡng lương gross. Khi tính theo năm, các khoảng tương ứng lần lượt là đến 120; trên 120–360; trên 360–720; trên 720–1.200; và trên 1.200 triệu đồng.
Giả sử một người cư trú có tổng lương chịu thuế 30 triệu đồng/tháng; khoản bảo hiểm được trừ là 3 triệu đồng; không có khoản giảm trừ khác và không có người phụ thuộc.
Thu nhập tính thuế = 30 − 3 − 15,5 = 11,5 triệu đồng/tháng.
Thuế TNCN = 10 × 5% + (11,5 − 10) × 10% = 0,65 triệu đồng, tức 650.000 đồng/tháng.
Giữ nguyên giả định trên, nếu người lao động có một người phụ thuộc đủ điều kiện được giảm trừ trong tháng:
Thu nhập tính thuế = 30 − 3 − 15,5 − 6,2 = 5,3 triệu đồng/tháng.
Thuế TNCN = 5,3 × 5% = 0,265 triệu đồng, tức 265.000 đồng/tháng.
Các ví dụ dùng số liệu giả định; số bảo hiểm thực tế phụ thuộc tiền lương làm căn cứ đóng và quy định áp dụng. Số thuế khấu trừ hàng tháng có thể được đối chiếu, điều chỉnh khi quyết toán năm.
Cá nhân không cư trú có thu nhập tiền lương, tiền công từ công việc tại Việt Nam áp dụng thuế suất 20% trên khoản thu nhập thuộc diện chịu thuế theo quy định, không áp dụng biểu thuế lũy tiến 5 bậc và giảm trừ gia cảnh như cá nhân cư trú.
Ví dụ: Thu nhập chịu thuế từ công việc tại Việt Nam của cá nhân không cư trú là 30 triệu đồng thì thuế tính theo tỷ lệ 20% là 6 triệu đồng, trong giả định không có yếu tố điều chỉnh khác.
Người lao động cư trú có hợp đồng lao động từ 3 tháng trở lên thường được đơn vị chi trả khấu trừ theo biểu thuế lũy tiến. Đối với cá nhân cư trú không ký hợp đồng lao động hoặc ký hợp đồng dưới 3 tháng, theo Nghị định 253/2026/NĐ-CP, khi chi trả từ 5 triệu đồng/lần trở lên, tổ chức chi trả thực hiện khấu trừ 10% trước khi trả tiền, trừ trường hợp được áp dụng quy định ngoại lệ phù hợp.
Khấu trừ 10% là cơ chế thu tại nguồn, không đồng nghĩa người nhận chắc chắn phải chịu thuế cuối cùng đúng bằng 10% thu nhập trong cả năm. Nghĩa vụ cuối cùng phụ thuộc thu nhập, điều kiện áp dụng và quyết toán thuế.
Để tính đúng thuế TNCN từ tiền lương, tiền công năm 2026, trước hết cần xác định người nộp thuế là cá nhân cư trú hay không cư trú. Với cá nhân cư trú, hãy tính thu nhập sau các khoản được trừ rồi phân bổ lần lượt vào 5 bậc thuế; với cá nhân không cư trú, áp dụng nguyên tắc thuế suất 20% theo phạm vi thu nhập chịu thuế. Đồng thời cần phân biệt số tiền bị khấu trừ khi nhận lương với nghĩa vụ thuế khi quyết toán.