Tên tiếng Việt của doanh nghiệp phải có hai thành tố theo thứ tự: loại hình doanh nghiệp và tên riêng. Tên riêng dùng chữ cái trong bảng chữ cái tiếng Việt, các chữ F, J, Z, W, chữ số và ký hiệu. Tên dự kiến không được trùng hoặc gây nhầm lẫn với tên doanh nghiệp khác đã đăng ký trên phạm vi toàn quốc, đồng thời không được vi phạm các điều cấm về tên doanh nghiệp.
Ví dụ minh họa về cấu trúc: “Công ty TNHH Sao Bình Minh” hoặc “Công ty Cổ phần Dòng Chảy Xanh”. Đây chỉ là tên giả định để giải thích cách ghép tên, không có nghĩa những tên này đang được phép đăng ký.

Theo Điều 37 Luật Doanh nghiệp, thành tố chỉ loại hình có thể được ghi dưới dạng đầy đủ hoặc dạng viết tắt được pháp luật cho phép:
|
Loại hình |
Cách viết thành tố loại hình |
|
Công ty trách nhiệm hữu hạn |
Công ty trách nhiệm hữu hạn / Công ty TNHH |
|
Công ty cổ phần |
Công ty cổ phần / Công ty CP |
|
Công ty hợp danh |
Công ty hợp danh / Công ty HD |
|
Doanh nghiệp tư nhân |
Doanh nghiệp tư nhân / DNTN / Doanh nghiệp TN |
Người đăng ký nên xác định đúng loại hình trước khi ghép với tên riêng. Phần tên riêng là nơi thể hiện nét nhận diện, nhưng vẫn phải tuân thủ giới hạn pháp lý và có khả năng phân biệt với doanh nghiệp đã tồn tại.
Tên trùng là tên tiếng Việt dự kiến hoàn toàn giống tên tiếng Việt của doanh nghiệp đã đăng ký. Ngoài trùng hoàn toàn, Điều 41 Luật Doanh nghiệp còn xác định những trường hợp dễ gây nhầm lẫn, chẳng hạn tên viết tắt hoặc tên bằng tiếng nước ngoài trùng với tên tương ứng của doanh nghiệp đã đăng ký, hoặc tên riêng của doanh nghiệp cùng loại chỉ khác bằng chữ số, chữ cái, một số ký hiệu hay một số cụm từ chỉ vùng miền theo các trường hợp luật định.
Vì vậy, thêm số “1”, ký hiệu “+”, từ “Tân”, “Mới” hay cụm “Miền Nam” vào một tên đã có không đương nhiên làm tên mới hợp lệ. Phải đối chiếu điều kiện cụ thể tại Điều 41 và kết quả thẩm định của cơ quan đăng ký kinh doanh.
Không được lấy tên cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân hoặc các tổ chức chính trị, chính trị – xã hội và nhóm tổ chức được liệt kê tại Điều 38 để làm toàn bộ hay một phần tên riêng, trừ trường hợp được chủ thể đó chấp thuận. Đồng thời, tên không được chứa từ ngữ, ký hiệu vi phạm truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức và thuần phong mỹ tục của dân tộc.
Tên doanh nghiệp không đồng nghĩa với quyền sử dụng một nhãn hiệu. Theo Nghị định 168/2025/NĐ-CP, không được lấy tên thương mại, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý đã được bảo hộ của người khác để cấu thành tên riêng nếu không có sự chấp thuận bằng văn bản của chủ sở hữu và không đáp ứng điều kiện tránh gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng. Người đặt tên cần kiểm tra nguy cơ xung đột quyền sở hữu công nghiệp riêng với việc kiểm tra trùng tên trong đăng ký doanh nghiệp.
Kết quả tra cứu chỉ giúp sàng lọc rủi ro, không phải xác nhận trước rằng tên chắc chắn được chấp thuận. Theo Điều 14 Nghị định 168/2025/NĐ-CP, cơ quan đăng ký kinh doanh có quyền chấp thuận hoặc từ chối tên dự kiến theo quy định pháp luật; người đăng ký có quyền khởi kiện theo pháp luật tố tụng hành chính nếu không đồng ý với quyết định.
Có. Điều 39 Luật Doanh nghiệp cho phép tên doanh nghiệp bằng tiếng nước ngoài là tên được dịch từ tên tiếng Việt sang một trong những tiếng nước ngoài hệ chữ La-tinh. Khi dịch, tên riêng có thể giữ nguyên hoặc dịch theo nghĩa tương ứng. Tên viết tắt được viết tắt từ tên tiếng Việt hoặc tên bằng tiếng nước ngoài.
Nếu doanh nghiệp đăng ký tên bằng tiếng nước ngoài, tên này khi thể hiện tại trụ sở và trên các giấy tờ, hồ sơ, tài liệu hoặc ấn phẩm do doanh nghiệp phát hành phải được in hoặc viết với khổ chữ nhỏ hơn tên tiếng Việt. Tên tiếng nước ngoài và tên viết tắt cũng cần kiểm tra nguy cơ trùng theo Điều 41.
Để đặt tên công ty mới thành lập đúng quy định, hãy bắt đầu bằng cấu trúc “loại hình doanh nghiệp + tên riêng”, loại bỏ các trường hợp tên trùng hoặc gây nhầm lẫn và rà soát những yếu tố bị cấm hay xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp. Tra cứu kỹ trước khi nộp hồ sơ sẽ giảm rủi ro phải sửa tên; quyết định chấp thuận cuối cùng vẫn thuộc cơ quan đăng ký kinh doanh.